Phật học vấn đáp
 

Hỏi : Chúng con có một việc quan trọng là bốc mộ, di dời mộ phần nhưng chưa biết nên tiến hành vào lúc nào ? Chúng con là những Phật tử, học và hiểu căn bản giáo lý, biết đạo Phật không có chủ trương xem ngày giờ tốt xấu trong mọi công việc. Tuy vậy, trong gia đình mỗi người có một quan điểm khác nhau. Chúng con đến hỏi chư Tăng thì có vị dạy theo chánh kiến Phật giáo trước khi làm gì hệ trọng cần tụng kinh, trai giới, làm phước để cầu nguyện, xong hợp thời là làm, không cần coi ngày. Chúng con rất phân vân, xin quý Thầy cho chúng con lời chỉ dẫn để sống đúng với tinh thần Phật dạy.

Đáp : Đúng như các bạn đã nhận thức : "Đạo Phật không có chủ trương xem ngày giờ tốt xấu". Tùy thuộc nghiệp nhân thiện hay ác nơi mỗi cá nhân đã làm trong quá khứ và hiện tại để tác thành nghiệp quả tốt hay xấu mà thôi. Bàng bạc trong kinh và nhất là trong những lời dạy cuối cùng trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật đã khuyên các đệ tử không nên tin tưởng và thực hành chuyện coi ngày, bói toán v.v... (Kinh Di Giáo). Vì thế, người Phật tử chánh tín Tam Bảo thì không cần và không nên xem ngày giờ tốt xấu trong mọi công việc, chỉ tin chắc nhân quả - nghiệp báo và chuyên tâm cải thiện, chuyển hóa những nghiệp nhân xấu ác làm nền tảng cho mọi suy nghĩ, lời nói và hành động để thành tựu những nghiệp quả tốt đẹp trong hiện tại và vị lai.

Về vấn đề có nên xem ngày tốt, tránh ngày xấu cho việc bốc mộ hay cải táng không ? Theo quan điểm Phật giáo, 1 người khi đã xả bỏ báo thân, tứ đại (thân thể vật chất gồm đất - chất cứng, nước -chất lỏng, gió -chất khí, lửa -nhiệt năng) trả về cho tứ đại, còn thần thức theo nghiệp tái sanh vào các cảnh giới tương ứng với nghiệp của chính họ. Do vậy, hài cốt hay mộ phần thực chất chỉ là yếu tố "đất" trong tứ đại, trong quá trình phân hủy trở về với đất mà thôi. Nếu thần thức sau 49 ngày đã tái sanh theo nghiệp thì yếu tố địa đại nơi hài cốt chỉ là "đất" đơn thuần. Mặt khác, trong các trường hợp như : "hiến xác cho khoa học", hỏa táng (đốt thi thể cháy thành tro bụi), thủy táng (đem thi thể thả trôi sông hoặc buộc vào đá cho chìm), lâm táng (đem thi thể quăng vào rừng), điểu táng (đem thi thể cho chim ăn) hay không táng (treo thi thể lên vách núi, cành cây) v.v... trong các quan niệm về mai táng khác nhau thì vấn đề hài cốt hay mộ phần không có gì quan trọng (có thể xem như không bàn đến). Như vậy, vấn đề hài cốt và mộ phần chỉ liên hệ đến địa táng (chôn thi thể vào lòng đất) gắn liền với các tập tục địa phương, tín ngưỡng dân gian của một bộ phận dân chúng mà thôi.

Tuy vậy, vấn đề coi ngày tốt xấu trong việc bốc mộ, dời mộ vốn đã ăn sâu vào tâm thức người Á Đông, nên cần phải cẩn trọng để tìm giải pháp "có tình, có lý" nhằm đem đến sự an ổn, hòa hợp cho mọi thành viên trong gia đình, dòng tộc. Trong trường hợp gia đình và dòng tộc các bạn, nếu tất cả đều thâm tín, hiểu biết Phật pháp sâu sắc (chánh kiến) thì chỉ cần tụng kinh, làm phước để cầu nguyện, hồi hướng cho hương linh, sau đó việc bốc mộ sẽ tiến hành tùy duyên khi nào thuận lợi. Nhưng trong trường hợp một vài thành viên trong gia đình cảm thấy không an tâm nếu không coi ngày tốt, tránh ngày xấu thì bạn nên phương tiện vì an tâm cho họ mà coi ngày. Người Phật tử có chánh kiến phải xác định việc coi ngày tốt xấu chỉ là phương tiện nhằm giúp cho những người khác trong gia đình yên tâm đồng thời tránh sự ngộ nhận, bị đỗ lỗi, gán tội do không "coi ngó, kiêng kỵ" về sau. Do vậy, khi các bạn tìm đến một vị thầy nhờ xem ngày tốt xấu để khởi sự bốc mộ, cải táng cố nhiên cũng coi với tinh thần phương tiện nhằm tạo sự yên tâm cho các bạn. Thực chất chẳng có ngày nào tốt và cũng không có ngày nào xấu cả; tốt hay xấu tùy người, tùy việc.

Bình tâm suy ngẫm, chánh tư duy, các bạn sẽ thấy rõ nếu coi ngày tốt để khởi sự làm việc dẫn đến kết quả tốt thì cần gì phải tạo phước, tu thân, tích đức. Nếu kết quả tốt đẹp trong mọi công việc chỉ nhờ vào coi ngày thì sẽ không phù hợp với tinh thần nhân quả - nghiệp báo, duyên khởi, một trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo. Khi đã hội đủ duyên, đủ phước thì làm việc gì cũng tốt đẹp và thành công. Ngược lại nếu thiếu duyên, thiếu phước thì dẫu nỗ lực đến mấy vẫn không thành tựu như ý. Do đó, quan điểm "trước khi làm những việc hệ trọng cần tụng kinh, trai giới, làm phước để cầu nguyện, xong hợp thời là làm, không cần coi ngày" có thể nói đó là chánh kiến, là kim chỉ nam cho mọi hành động, việc làm của người Phật tử chánh tín.

Hỏi : Chúng con tụng kinh được biết 10 danh hiệu của chư Phật nhưng không hiểu ý nghĩa. Xin quý Thầy hoan hỷ giải thích.

Đáp : Mười danh hiệu xưng tán công đức chư Phật thường gọi Như Lai thập hiệu gồm : 1. Như Lai, 2. Ứng Cúng, 3. Chánh Biến Tri, 4. Minh Hạnh Túc, 5. Thiện Thệ, 6. Thế Gian Giải, 7. Vô Thượng Sĩ, 8. Điều Ngự Trượng Phu, 9. Thiên Nhân Sư10. Phật Thế Tôn.

Như Lai (Phạn ngữ [S] Tathàgata), nương theo con đường như thật (Như) mà đến (Lai) và thành Chánh giác.

Ứng Cúng (S.Arhat), xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời và người.

Chánh Biến Tri (S.Samyaksambudd-ha), có khả năng biết rõ chính xác về các phương diện của vạn pháp.

Minh Hạnh Túc (S.Vidyàcaranasa-mpanna), Tam minh (Thiên nhãn minh, Túc mạng minh, Lậu tận minh) và các công hạnh đều viên mãn.

Thiện Thệ (S.Sugata), dùng Nhất thiết trí làm phương tiện, thực hành Bát Thánh đạo mà nhập Niết bàn.

Thế Gian Giải (S.Lokavid), rõ biết mọi việc của các loài có tình thức và không có tình thức trong thế gian.

Vô Thượng Sĩ (S.Anuttara), bậc tối thắn, vô thượng trong tất cả chúng sanh.

Điều Ngự Trượng Phu (Purasa-Damyasarathi), bậc đã chứng đắc phẩm vị cao cả nhất và khéo léo điều phục chúng sanh.

Thiên Nhân Sư (S.Sàstadevamànus-yànàm), bậc thầy dạy của chư Thiên và nhân loại.

Phật Thế Tôn (S.Buddha Bhagavat), tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn và được thế gian tôn kính.

Mười tôn hiệu này, một vài kinh luận có sự sắp xếp khác nhau. Thành Thật Luận gộp Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành một đồng thời tách Phật Thế Tôn ra thành hai tôn hiệu. Đại Luận tách Phật Thế Tôn ra thành 2, Phật là tôn hiệu thứ 10, Thế Tôn làm 1 tôn hiệu riêng với ý nghĩa bao quát cả 10 danh hiệu. Ngoài ra, kinh Trường Bộ và Tăng Chi Bộ khi đề cập đến 10 danh hiệu Phật thì không có tôn hiệu Như Lai v.v...

Hỏi : Hàng cư sĩ có được phép mặc áo tràng màu nâu hay màu vàng khi hành lễ cũng như khi ra đường giống như chư Tăng không ?

Đáp : Chư Tăng (Bắc tông) có hai loại y phục, đó là pháp phục và thường phục. Pháp phục gồm y (ca sa) vàng và hậu (áo tràng tay rộng) màu vàng, chỉ mặc trong khi làm lễ. Chư Ni mặt áo hậu màu lam, y màu vàng. Thường phục gồm áo dài (tràng, nhật bình) màu nâu hoặc màu lam và bộ y phục ngắn (vạt hò), thường là màu nâu hoặc màu lam, có nơi màu vàng (cho các bậc Trưởng lão).

Hàng cư sĩ đến chùa, trong các khóa lễ thường mặc áo tràng (tay nhỏ), màu lam (một vài nơi mặc áo tràng màu nâu). Hiện nay, tại các khóa tu hay đạo tràng, một số Phật tử cũng mặc bộ y phục vạt hò màu lam hoặc nâu nhưng khi hành lễ thì mặc thêm áo tràng màu lam.

Như vậy, đối với cư sĩ Phật tử, chỉ sử dụng áo tràng màu lam khi hành lễ mà thôi. Hàng cư sĩ không nên mặc áo tràng nâu, như quý thầy khi đi ra ngoài. Ngay cả những vị cư sĩ thường xuyên ở chùa hoặc những vị có trách nhiệm trong ban hộ tự hay ban nghi lễ cũng không nên sử dụng y phục giống như chư Tăng, áo tràng không được rộng tay nhằm để tôn kính và phân biệt Tăng tục rõ ràng.

Hỏi : Con là Phật tử, làm nghề thuốc nên thờ Phật Dược Sư và thường tụng kinh Dược Sư. Con muốn trì niệm danh hiệu Phật Dược Sư để được Ngài gia hộ. Xin quý Thầy cho biết nên trì niệm danh hiệu nào (vì Ngài có nhiều danh hiệu) và ý nghĩa của danh hiệu cùng công năng của việc trì niệm.

Đáp : Đức Phật Dược Sư là giáo chủ thế giới Tịnh Lưu Ly ở phương Đông. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, nhờ trong khi tu hành Bồ-tát-đạo phát 12 đại nguyện giải trừ hết thảy bệnh khổ cho chúng sanh, khiến họ đầy đủ căn lành và hướng về giải thoát nên khi thành Phật, Ngài trụ ở thế giới Tịnh lưu ly, trang nghiêm như thế giới Cực lạc.

Phật Dược Sư, Phạn ngữ Bhaisajyaguru Buddha, Hán dịch là Dược Sư Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, Thập Nhị Nguyện Vương... Cũng như các Đức Phật trong mười phương, Đức Dược Sư có đầy đủ thập hiệu Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Vấn đề trì niệm hồng danh Đức Dược Sư, mặc dù Ngài có nhiều danh hiệu nhưng trì niệm hồng danh thường là Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật hay Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Theo sách Dược Sư kinh sám, phần Niệm Phật ghi rõ niệm Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Phật. Các hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh và niệm đến nhất tâm. Cũng vậy, khi tu tập pháp môn Dược Sư, hành giả niệm danh hiệu Phật Dược Sư cũng phải đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh. Có thể niệm thầm, niệm ra tiếng, lần tràng hạt v.v... và niệm cho đến nhất tâm giống như các phương thức niệm Phật A Di Đà.

Về ý nghĩa Thánh hiệu : Dược sư, nghĩa đen là thầy thuốc chữa bệnh. Lưu ly là một loại ngọc màu xanh trong suốt. Quang là ánh sáng. Lưu ly quang là ánh sáng ngọc lưu ly. Dược Sư Lưu Ly Quang Phật là vị Phật có danh hiệu Thầy thuốc chữa bịnh, ánh sáng như ngọc lưu ly. Đức Dược Sư hiểu biết và thông suốt tất cả y dược của thế gian và xuất thế gian, Ngài có thể chữa trị hết tất cả những thứ bệnh khổ của chúng sanh, những đìên đảo vọng tưởng do tham, sân, si phiền não gây ra. Ánh sáng của Phật Dược Sư thật không nghĩ bàn "Trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi". Ánh sáng ấy chiếu đến đâu đều phá hết tăm tối vô minh của chúng sanh, đem lợi lạc và diệt tất cả những bệnh khổ thân tâm của chúng sanh, khiến cho họ xa lìa mê vọng mà hướng đến giác ngộ, giải thoát.

Về công năng của việc trì niệm danh hiệu Phật Dược Sư, có thể nói là không thể nghĩ bàn. Theo kinh Dược Sư Như Lai Bản Nguyện Công Đức, đại dụng của danh hiệu Phật Dược Sư, điển hình có năm vấn đề sau :

Diệt sự tham lam mà phát tâm bố thí : Nhờ trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà mở rộng tấm lòng, không còn tham lam, ích kỷ chỉ lo tích cóp cho riêng mình đồng thời luôn chia sẻ, ca ngợi và thực hành bố thí.

Diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới : Đối với những tội lỗi, lầm lỡ đã gây tạo, nhờ niệm danh hiệu Ngài mà được chuyển hóa đồng thời phát nguyện sống đạo đức, lương thiện theo Chánh pháp.

Diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát : Do nghiệp lực ganh ghét, đố kỵ người khác nên chịu quả báo hèn hạ, thống khổ. Niệm Phật Dược Sư sẽ khiến cho hành giả phát tâm tu học, diệt trừ khổ não, thành tựu giải thoát.

Diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau : Những ý niệm oán kết, thù hận dẫn đến hành động tiêu diệt lẫn nhau, nhờ niệm danh hiệu Đức Dược Sư mà được hóa giải. Không những không còn làm hại nhau mà còn hiểu biết, thương yêu và tôn trọng lẫn nhau.

Được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác : Đối với những hành giả phát tâm niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sanh Cực lạc thì niệm Phật Dược Sư là một sự trợ duyên rất quan trọng. Chư Phật, các Đại Bồ tát trong pháp hội Dược Sư luôn trợ hóa cùng Phật A Di Đà, tiếp dẫn chúng sanh về Cực lạc. Đồng thời, nhờ công đức tu tập Thánh hiệu Phật Dược Sư mà hành giả được đầy đủ phước báo, sanh về các thế giới an lành.

Ngoài ra, nhờ năng lực bổn nguyện của Phật Dược Sư, những chúng sanh thọ trì danh hiệu Ngài được tiêu trừ tất cả bệnh khổ và thành tựu mọi sở nguyện, sở cầu.

Tô Tử và Thiên Hữu