| Phật Bà Quan Âm |
| Lê Phụng |
|
...Trước tiên là Phật danh Quán Thế Âm, đọc tắt là Quán Âm, người Trung quốc phiên âm thành Kuan Yin, người Nhật đọc là Kwannon hay Kannon. Quán Thế Âm là vị Bồ tát, đã đạt tới mức nghe bằng mắt nhìn bằng tai, Ngài lắng nghe người thế đắm chìm trong biển khổ niệm tên Ngài cầu đến tế độ; Trong sách Phật, Bồ Tát danh này đã từ lâu là một đề tài tranh biện. Theo Đường Huyền Trang (602-664) người từ Trung quốc băng qua sa mạc sang Tây Trúc thỉnh kinh, thì Phật danh đó là một lầm lỗi dịch thuật, đúng ra phải gọi là Quán Tự Tại, dịch nghĩa chữ Phạn Avalokitesvara. Quán Tự Tại là danh hiệu của 1 Bồ tát được nhắc tới trong câu đầu của bản Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, bản dịch chữ Hán của Đường Huyền Trang gồm 262 chữ. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là bài giảng cho Ngài Xá Lợi Phất, về kết quả thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa của Bồ Tát Quán Tự Tại. Kinh gồm một chuỗi phủ quyết rồi kết thúc bằng một câu vô đẳng chú. Bản dịch tiếng Việt của Tuệ Sỹ bắt đầu bằng câu : Khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành Bát Nhã Ba La Mật sâu xa, soi thấy rằng có năm uẩn, và thấy rằng năm uẩn đó không có tự tánh trong chúng. Và tận cùng bằng câu thần chú : Yết Đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. Tuệ Sỹ dịch nghĩa là : Này Bodhi, đi qua, đi qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia, Svàha. Đó là một bản kinh không những tín đồ Chân Tông nhận làm tâm kinh mà giới Thiền giả cũng hàng ngày tụng đọc. Đoạn kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh trên soi sáng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Thiền sư Phạm Kỳ viết : Bằng tâm không dấy, tất cả lục quan không động, hình thanh chẳng có là hình thanh. Huệ Hồng theo đó viết : Theo kinh Pháp Hoa, Quán Thế Âm Bồ Tát (...) xem xét tiếng (niệm danh Ngài) tức thời mọi chúng sinh (niệm danh Ngài) đều được giải thoát, là bởi Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn thấy tiếng niệm danh và nói với chúng sinh bằng mắt... Đằng khác, theo Trừng Quán (738-839) thì Bồ Đề danh Quán Thế Âm và Quán Tự Tại viết theo chữ Phạn là hai chữ khác nhau. Gần đây, năm 1927, trong một bản viết tay trên lá bối, mà giới nghiên cứu cho là viết từ thế kỷ thứ 5, người đọc tìm thấy năm lần Bồ Đề danh Avalokitasvara, dịch là Quán Âm. Giả thiết có lầm lỗi trong việc sao chép như vậy đã không còn đứng vững, và N.D. Mironov trong bài Buddhist Miscellanea, Journal of the Royal Asiatic Society số tháng Avril 1927, kết luận là Quán Thế Âm hay Avalokitasvara là chữ Phạn nguyên thuỷ, sau đó mới viết thành Avalokitesvara hay Quán Tự Tại. Bộ kinh được coi là xuất hiện sớm nhất vào năm 185, trong đó giới học Phật tìm thấy Bồ Đề danh Quán Âm là Chân Quang Minh Định Ý Kinh. Hình Tượng Bồ Tát Quán Âm, thờ tại các chùa lớn nhỏ, cũng có nhiều điểm đáng lưu ý. Riêng cuốn The Buddha Scroll, đầu đề chữ Hán là Pháp Giới Nguyên Lưu Đồ, (do Thomas Cleary giới thiệu, nhà sách Shambhala, Boston & London phát hành năm 2000), gồm 96 bức họa hình tượng Phật, trong có mười lăm ảnh Bồ Tát Quán Âm khác nhau. Cuốn tranh nầy hoàn tất năm 1767 dưới triều vua Càn Long nhà Thanh, vẽ lại theo một bộ tranh Phật của nước Đại Lý, một nước nhỏ trong thời Nam Triều (738-902) thuộc địa phận tỉnh Vân Nam, Trung quốc ngày nay. Trong số 15 bức ảnh tượng đó có ba bức Cô Tuyệt Hải Ngạn Sơn Quán Thế Âm, Phạn Tăng Quán Thế Âm và Lục Tý Quán Thế Âm là hình tượng Phật ông, mười hai bức kia đều là hình tượng Phật bà. Câu chuyện Phật Quán Âm là Phật ông hay Phật bà cũng là một câu hỏi lớn trong giới học Phật. Dựa vào hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhiều nhà nghiên cứu cho là nguyên thuỷ tượng Bồ Tát Quán Âm đều là những bức tượng Phật ông, tại Ấn Độ, Tây Tạng cùng tại nhiều nơi khác trong cõi Đông Nam Á, cũng như tại Trung quốc trước đời nhà Đường (618-907) tìm thấy trong những động Phật tại Đôn Hoàng. Tại Tích Lan, Cao Miên và Tây Tạng, ảnh tượng Bồ Tát Avalokitesvara ngày nay đều là hình tượng Phật ông. Tới cuối nhà Đường sang đầu nhà Tống, ảnh tượng Quan Âm Trung quốc mới bắt đầu đổi thành những hình tượng Phật bà. Theo dõi sự biến đổi hình tượng Bồ Đề Quán Âm, giới Phật học nhìn ra sự biến đổi của Phật giáo trong thời kỳ truyền bá từ Tây Trúc qua vùng bờ biển Thái Bình Dương, đặc biệt là đia vị của tín nữ trong việc thành đạo. Gần đây, năm 1930 I.B. Horner xuất bản cuốn Women under Primitive Buddhism, do nhà Routledge & Kean Paul tại London phát hành, rồi tới năm 1980, Diana Mary Paul xuất bản cuốn Women in Buddhism do nhà Lancaster-Miller Publisher taị Berkley phát hành. Mục đích của cả hai cuốn sách là nghiên cứu về hoàn cảnh của người phụ nữ đã xuất gia hay còn tại gia phải chịu đựng trong xã hội Phật giáo Ấn Độ. Kết quả công cuộc nghiên cứu này cho thấy là thuở Đức Phật Thích Ca còn hành đạo, thì cả nam và nữ phái cùng có thể thành đạo. Tiếp đó là thời kỳ Phật giáo chia rẽ thành hai mươi giáo phái, thì phái nữ vô phương thành đạo, chỉ có phái nam mới có hy vọng thành Phật. Phải tới đầu kỷ nguyên, qua huệ nhãn Bát Nhã Ba La Mật Đa, với chủ thuyết không tách biệt, không phân biệt, coi tất cả là Không, người tín nữ mới có lại hy vọng thành đạo như người thiện nam. Đằng khác Suzuki viết trong Thiền Luận, bản dịch của Trúc Thiên, tập thượng, tr.116 bản phóng ảnh của cơ sở xuất bản Đại Nam, California : Nét đặc thù là vai trò của phái nữ được đề cao ở nhiều trường hơp khác nhau. Không những các bà có đủ biện tài trí huệ, mà còn đứng ngang hàng với phái nam. Trong số năm mươi ba vị triết gia hoặc đạo trưởng mà Thiện Tài Đồng Tử đến tham vấn, trên đường hành cước, có nhiều cô, nhiều bà sống trong những điều kiện mưu sinh khác nhau, trong đó có cả gái giang hồ, người nào cũng biện luận đầy minh triết với vị đồng tử chí tâm cầu đạo. Thật khác hẳn ngày nào phụ nữ chỉ được miễn cưỡng nhận vào hội tăng già. Trích dẫn trên cho thấy Suzuki chỉ nói tới hoàn cảnh tín nữ Trung quốc khi bộ kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa đã phổ cập sâu rộng trong đông đảo tín chúng. Tiến trình này phản ảnh qua một số kinh thường tụng niệm. Kinh Trường A Hàm, quyển 4, phần 1, Kinh Du Hành thứ 2, đoạn 3, bản dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Phật Học Viện Quốc Tế tái bản năm 1986, có đoạn : A Nan bạch Phật : - Sau khi Phật diệt độ, có kẻ đàn bà con gái đến thụ giáo thì làm sao ? Phật dạy : - Chớ cho gặp. - Giả sử phải gặp thì sao ? - Chớ cùng nói chuyện. - Giả sử phải cùng nói chuyện thì sao? - Hãy lo nhiếp tâm ý. Trong lời tựa, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu cho biết là kinh A Hàm ít phổ cập trong các nước theo Phật giáo Đại Thừa và phản ảnh trung thực tình trạng xã hội đương thời tại Ấn Độ. Đoạn kinh trích dẫn chứng tỏ rằng đương thời người nữ gặp khó khăn ngay từ việc gia nhập giáo hội. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, phẩm Hằng Già Đề Bà, do HT Thích Trí Tịnh dịch sang tiếng Việt, chùa Khánh Anh in lại, có đoạn sau : ...Bấy giờ trong đại chúng có một nữ nhân tên Hằng Già Đề Bà từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai hữu chấm đất, chắp tay bạch Phật : - Bạch ĐứcThế Tôn ! Con sẽ thực hành sáu pháp ba la mật để tịnh Phật quốc độ đúng như lời dạy trong Bát Nhã Ba La Mật (...). Khi đó, Đức Phật biết rõ thâm tâm của nữ nhân nên mỉm cười đúng như cách thức của chư Phật (...). Đức Phật phán : - Này A Nan ! Hằng Già Đề Bà này sẽ thành Phật ở đời vị lai trong kiếp tinh tú, hiệu là Kim Hoa Phật. Này A Nan ! Nữ nhân này sau khi chết sẽ thọ thân nam tử sanh về nước Diệu Hỷ của Đức Phật A Súc. Ở nước Diệu Hỷ đó tu phạm hạnh thanh tịnh. Đoạn trích dẫn trên cho thấy rằng thời Đức Phật truyền đạo, nữ nhân đã có mặt trong hàng giáo chúng, nhưng muốn được thành chánh quả phải qua một kiếp thọ thân nam tử. Điều này còn thấy trong kinh Pháp Hoa, quyển IV, phẩm XII, Đề Bà Đạt Đa. Kinh chép trong đoạn 7, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch sang tiếng Việt, chùa Khánh Anh in lại : Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất nói với Long Nữ (con gái Long Vương) rằng : - Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao ? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể thành vô thượng Chính Giác ? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chưá nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng : một chẳng được làm Phạm Thiên Vương; hai chẳng được làm Đế Thích; ba chẳng được làm Ma Vương; bốn là chẳng được làm Chuyển Luân Thánh Vương; năm chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật ? Lúc đó, Long Nữ có một hột châu báu giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dâng Đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long Nữ nói với Trí Tích Bồ Tát cùng tôn giả Xá Lợi Phất rằng : - Tôi hiến châu báu, Đức Thế Tôn nạp thọ việc đó có mau chăng ? - Rất mau. Long Nữ nói : - Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại còn mau hơn việc đó. Đang lúc ấy, cả chúng đều thấy Long Nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sinh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu. Hình ảnh Long Nữ, người tín nữ trong đoạn kinh Pháp Hoa trích dẫn trên đây, với tư tưởng thâm diệu, quảng đại và tinh tế cùng một tài hùng biện hiếm có, biến hóa trên đường thành Chánh Giác thấy rõ trong đoạn kinh sau, trích từ phẩm Quán Chúng Sinh, kinh Duy Ma Cật, bản dịch của Hòa Thượng Thích Huệ Hưng, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1999 : Bấy giờ trong nhà ông Duy Ma Cật có một Thiên Nữ thấy các vị trời người đến nghe pháp, liền hiện thân ra tung rải hoa trên mình các vị Bồ tát và đại đệ tử. Khi hoa đến mình các vị Bồ tát đều rơi hết, còn đến mình các đại đệ tử đều mắc lại. Các vị đại đệ tử dùng hết thần lực phủi hoa mà hoa cũng không rớt. Lúc này Thiên Nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất: - Tại sao mà phủi hoa ? - Hoa này không như pháp nên phủi.. Thiên Nữ nói : - Chớ bảo hoa này không như Pháp. Hoa này nó không có phân biệt, tự Nhân giả phân biệt đó mà thôi. Nếu người xuất gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp, nếu không phân biệt là như pháp. Đấy xem các vị Bồ tát hoa có dính đâu ? Vì các vị Bồ tát đoạn hết tướng phân biệt (...). Ngài Xá Lợi Phất nói : - Vì sao ngươi không chuyển thân nữ kia đi ? Thiên Nữ nói : - Mười hai năm nay tôi kiếm mãi cái tướng nữ nhân mà không thể đặng, phải chuyển đổi cái gì ? Ví như nhà huyễn thuật hoá phép sinh ra một người huyễn nữ, nếu có kẻ hỏi rằng : "Sao không chuyển thân nữ đó đi ?" Vây thì người hỏi đó có đúng chăng ? Ngài Xá Lợi Phất nói : - Không đúng ! Huyễn hoá không có tướng nhất định còn phải chuyển đổi gì nữa. Thiên Nữ nói : - Tất cả các pháp cũng đều như thế, không có tướng nhất định. Tại sao lại hỏi sao không chuyển thân nữ ? Tức thời, Thiên Nữ dùng sức thần thông biến hóa Ngài Xá Lợi Phất thành ra Thiên Nữ, và tự hóa mình thành ra giống Ngài Xá Lợi Phất, mà hỏi rằng : - Tại sao Ngài không chuyển thân nữ đi ? Mang hình tượng Thiên Nữ, Ngài Xá Lợi Phất đáp rằng : - Ta nay không biết làm sao biến thành thân đàn bà này ? Thiên Nữ nói : - Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Nếu Ngài chuyển được thân đàn bà đó, thời tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Ngài Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hìện thân nữ, thời tất cả người nữ cũng như thế, tuy là thân nữ mà không phải là người nữ đâu. Vì thế, Phật nói : tất cả pháp không phải đàn ông không phải đàn bà. Bấy giờ Thiên Nữ thu nhiếp thần lực, thân Ngài Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên Nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất : - Tướng đàn bà bây giờ ở đâu ? Ngài Xá Lợi Phất đáp : - Tướng đàn bà không ở một nơi đâu, mà ở tất cả mọi chốn. ...Đằng khác, người tín nữ trên đưòng thành chánh quả phải biến đổi thành thiện nam cũng còn chép trong kinh Vô Lượng Thọ, trong lời nguyện thứ 35 trong số 48 điều nguyện của Phật A Di Đà, theo bản dịch của Tỳ kheo Thích Đức Niệm và cư sĩ Minh Chánh, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1998, như sau : Khi con thành Phật, nước con không có phụ nữ. Nếu có nữ nhân nào nghe danh hiệu con, thanh tịnh tin tưỡng, phát tâm bồ đề, chán ghét nữ nhân, mạng chung liền hóa thân nam tử sanh về nước con. Các loại chúng sanh ở mười phương, sanh về nước con đều hóa sanh trong trong hoa sen thất bảo. Nếu không được như thế, nguyện không thành Chánh Giác. Hai là theo Duy Ma Cật, mượn lời của Thiên Nữ, tất cả đều không có hình tướng nhất định, theo chữ Không trong dòng tư tưởng Bát Nhã, như Đức Thế Tôn dạy trong phẩm Phật Mẫu, mà Suzuki tóm tắt trong cuốn Thiền Luận tập hạ, và Tuệ Sỹ dịch, ấn quán Thăng Long xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn, như sau : (...) Tịnh hay bất tịnh, nhiếp tâm hay loạn tâm, nhiễm tâm hay ly nhiễm tâm, tất cả đều không tự tánh, không thủ trước, không phân biệt. Đấy được coi là nhìn vạn hữu trong chân như tướng của chúng, trong đó mọi sai biệt tan biến hết, đồng thời hiển lộ tự thân như thực trong ánh sáng của trí Bát Nhã... Thế nên, phải chăng trong ánh sáng Bát Nhã đó, người con Phật Á Đông đã chuyển biến hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, dũng mãnh trượng phu thành hình Đức Phật Bà Quán Âm từ bi hỉ xả? Phải chăng qua hình tượng Phật Bà Quán Âm người Đông Á khác người Ấn Độ, tin rằng người nữ không cần phải hóa thân thành người nam để trở thành đạo. Khởi đầu từ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gọi ngắn là kinh Pháp Hoa, một bộ kinh rất phổ cập tại các nước Đông Á. Chữ Liên Hoa nghĩa là hoa sen, hình ảnh của Phật không những chỉ biểu thị cho sự thanh khiết : Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, mà trong hoa sen còn có hạt sen, trong hạt có nhân sen, 3 hình ảnh tiêu biểu cho hiện tại, tương lai và quá khứ thu vào một niệm, một quan niệm về thời gian chung cho nhiều tôn giáo, mà giới nghiên cứu gọi là thời gian đứng thẳng, vertical time, trong đó có Phật quá khứ, Phật hiện tại, và Phật tương lai cùng là một. Trong kinh có phẩm thứ XXV mang tựa đề Phổ Môn gồm 2062 chữ Hán, chép lời Phật tả rõ hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm để trả lời câu Bồ Tát Vô Tận Ý hỏi về Bồ Tát Quán Thế Âm - chữ Phổ Môn, nghĩa là cửa chung cho mọi chúng sinh, dường như gốc thành ngữ của Phật là cửa rộng trong tiếng Việt Nam. Giới Phật học hiểu chữ rộng không phải căn cứ trên kích thuớc, mà là một cửa không hạn định cho mọi chúng sinh : mỗi chúng sinh đều như nhau, tựa như hai giọt nước. Phẩm này còn được chép riêng thành Quán Âm Kinh. Trong kinh Phật dạy : 1/. Nếu chúng sinh dưới ách khổ não, niệm danh Bồ Tát Quán Thế Âm thì Ngài sẽ nghe thấu và tới giải thoát. Niệm danh Bồ Tát Quán Thế Âm thì nhờ thần uy Bồ Tát vào lửa không sợ chết cháy, xuống nước sâu không sợ chết đuối, gặp quỷ dữ cũng thoát. 2/. Người sắp bị nạn dao gậy, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì dao gậy gãy ra từng khúc. Người bị gông cùm xiềng xích, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì gông cùm xiềng xích đều tan rã. Khách buôn lạc vào đường hiểm trở, niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm cũng được thoát khỏi oán tặc. 3/. Chúng sinh nào nhiều lòng dâm dục, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm liền được ly dục. Người nhiều giận hờn, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm cũng dập tắt được lửa sân. Kẻ ngu si niệm Bồ Tát Quán Thế Âm cũng lìa ngu si. Người nữ muốn cầu con trai sinh con trai phúc đức trí tuệ, cầu con gái sinh con gái xinh đẹp. Phật còn cho Bồ Tát Vô Tận Ý biết ba mươi hai pháp thân mà Bồ Tát Quán Thế Âm sử dụng để tùy từng chúng sinh niệm danh Ngài mà nói pháp chứng độ chúng sinh đó ra khỏi biển khổ. Trong số những thân tướng đó đứng đầu là thân Phật, tiếp theo thân Duyên Giác, Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, kể cả thân phụ nữ của Trưởng giả, Cư Sĩ, Tể quan, Ba La Môn. Phép biến hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm cốt để giúp người niệm danh Ngài cảm thấy gần gũi với Ngài khi được Ngài tế độ. Kết cuộc, Phật khuyên các Bồ tát phải cùng một lòng cúng dàng Bồ Tát Quán Thế Âm. Phẩm Phổ Môn chấm dứt bằng lời Bồ tát Vô Tận Ý nguyện cúng dàng Bồ Tát Quán Thế Âm. Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm để được báo ứng là một chuyện chép trong sách Thái Bình Quảng Ký và Lê Quý Đôn có ghi trong sách Kiến văn Tiểu Lục, quyển IX tựa đề Thiền Dật. Chuyện như sau : Vương Huyền Mô nhà Tống, trái quân luật trong khi đi đánh phương Bắc, chiếu theo quân pháp đáng phải xử tử. Một đêm, Huyền Mô nằm mộng thấy có người nữ đến bảo : - Cứ tụng Quán Âm đủ một ngàn lần sẽ thoát nạn. Huyền Mô nói : - Tính mạng ta chỉ còn trong chốc lát, làm sao tụng kinh đủ một ngàn lần. Người trong mộng dạy Huyền Mô câu như sau : Nam mô Quán Thế Âm Phật, dữ Phật hửu nhân, dữ Phật hữu duyên, thường lạc ngã tĩnh, triêu niệm Quán Thế Âm, mộ niệm Quán Thế Âm, niệm niệm tòng tâm khởi, tự nhiên Phật bất ly thân. Nghĩa là : Nam Mô Quán Thế Âm Phật, cùng Phật có nhân, cùng Phật có duyên, thường lạc ngã tĩnh. Sớm niệm Quán Thế Âm, chiều niệm Quán Thế Âm, niệm từ tâm phát hiện, tất nhiên Phật chẳng lìa. Huyền Mô y lời tụng tám câu này đủ một ngàn lần và nhờ vậy, lưỡi dao đao phủ gần đến cổ là gãy nát, nhờ vậy thoát nạn. Kết luận này cho thấy là đúng như lời kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Quán Thế Âm luôn luôn lắng nghe chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài và sẵn sàng tới cứu nạn. Lê Quý Đôn chép chuyện truyền kỳ trên đây chứng tỏ rằng không riêng ở Trung quốc, mà cả tại Việt Nam, người người hằng niệm danh Bồ Tát Quán Thế Âm để mong được độ trì ra khỏi cảnh ngặt nghèo... Trải qua hơn mười hai thế kỷ, hình tượng Quán Thế Âm như một vị Phật Bà vẫn hằng thay đổi tùy theo kẻ niệm danh hiệu Ngài. Sau đây là bốn hình tượng quen thuộc nhất, qua những chuyện cổ tích hằng lưu truyền trong dân chúng. 1. Diệu Thiện Quán Âm. 2. Mã Lang Phu Quán Âm. 3. Bạch Y Quán Âm. 4. Nam Hải Quán Âm. Những chuyện này tùy theo địa phương thay đổi ít nhiều so với những bản chép trong sách Bảo Quyển của người Trung quốc. Một điều đáng để ý là khi niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, dân chúng thưòng gọi tắt là Phật hay Phật Bà Quán Âm, thay vì Bồ Tát Quán Thế Âm. Sự tích Diệu Thiện Quán Âm là một đề tài nghiên cứu của nhiều nhà Phật Học, Tại Nhật có Tsukamato Zenryu (Trủng Bản Thiên Long-1955), ở khối tiếng Anh có Glen Dudbridge (1878, 1982) tiếp tới Rolf A. Stein (1986) trong khối tiếng Pháp. Tại Việt Nam có Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Học Toàn Thư, tập II, không ghi năm in, nhà sách Như Ý phát hành, chép chuyện bà Chúa Ba như sau : ...Ngày xưa, có một ông vua sinh liên tiếp hai người con gái đầu lòng. Không có con trai, vua lo lắng không kẻ nối ngôi, ngày đêm cầu khẩn Trời Phật cho Hoàng Hậu sinh ra hoàng nam. Nhưng đến khi đứa con thứ ba ra đời, cũng vẫn là con gái. Vua lấy thứ ba mà dặt tên cho công chúa út. Giận các đấng thiêng liêng đã không phù trợ mình đạt được ý nguyện. Tuổi thọ đã cao, vua muốn cho công chúa thứ ba lấy chồng, định sẽ truyền ngôi phò mã. Trái với hai chị, là Diệu Thanh và Diệu Âm, công chúa Ba không đắm mình trong cung vàng điện ngọc mà chỉ say mê tiếng kệ câu kinh, rồi quyết tâm theo đạo Phật. Nàng nhất quyết không chịu lấy chồng, khiến vua và hoàng hậu nổi giận, bắt giam nàng ở riêng tại vườn sau hoàng cung. Một hôm vua cùng hoàng hâu ngự thăm vườn, công chúa Ba chạy đến đón xa giá. Vua lại phán bảo nàng bỏ ý định tu hành để tính việc trăm năm, song nàng vẫn một mực từ chối, và xin phép vua cha xuất gia đầu Phật. Vua giả vờ chiều theo ý con, cho nàng đến tu ở chùa Bạch Tước, đồng thời ra lệnh cho các nhà sư phải khuyên nhủ công chúa Ba trở về cung để lấy chồng. Nếu việc không thành thì chùa sẽ bị thiêu cháy và tất cả sư sãi trong chùa đều bị chém đầu... Các nhà sư sợ hãi tìm đủ mọi cách để làm cho công chúa xiêu lòng mà hồi tục; nhưng đều vô hiệu. Vua hay tin liền nổi cơn thịnh nộ ra lệnh đốt chùa để giết luôn cả công chúa vì đã không tuân lệnh vua cha, nhưng ngọn lửa vừa ùn ùn nổi lên bao vây cả bốn phía chùa, thì trời đang tạnh ráo bỗng tuôn mưa xối xả dập tắt ngay. Vua bèn cho bắt công chúa Ba để xử tử, nhưng trời lại nổi cơn bão táp dữ dội, sét đánh văng lưỡi dao của đao phủ nhắm bổ vào cổ công chúa. Vua vẫn chưa nguôi giận, ra lệnh xử giảo nàng. Quân lính đang sửa soạn dây treo cổ nàng thì bỗng đâu có một con cọp phóng qua hành rào binh sĩ cướp mất công chúa Ba, cõng nàng đưa đến chùa Hương Tích tu hành (...) Các thú dữ trong rừng núi được cảm hóa đến nghe kinh, rồi chia nhau, chim hái trái, nai lấy nước, khỉ vo gạo, rồng thổi lửa nấu cơm ... hầu hạ công chúa ngày đêm. ...Về triều, vua cha phát bệnh phong ghê gớm. Các danh y được mời đến đều bó tay trước chứng bệnh của nhà vua. Da thịt vua sần cùi lở lói, các ngón tay ngón chân dần dần rơi rụng, vua cha mất cả hai tay và hai mắt. Công chúa Ba tu hành đắc đạo, khoác áo về kinh, thấy vua cha bị bệnh thê thảm, liền tự moi hai mắt và chặt hai tay làm thuốc cứu chữa cho vua cha lành mạnh. Sau đó công chúa hóa về Niết Bàn... Người đọc truyện truyền kỳ nhận ra qua hình ảnh bà Chúa Ba nhiều hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm chép trong phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa. Trước hết là hình ảnh bà Chúa Ba khăng khăng cưỡng lời vua cha và hoàng hậu, không chịu lấy chồng, phải chăng là hình ảnh của một người đã ly dục. Chi tiết sét đánh văng lưỡi dao đao phủ khi chém gần đến cổ bà Chúa Ba, dường như nhắc lại đoạn kinh Pháp Hoa sau đây: Nếu lại có người sắp bị hại xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của kẻ sát nhân liền gãy ra từng khúc, người ấy được thoát nạn. Hình ảnh con cọp bất thần xuất hiện cướp Bà Chúa Ba giữa pháp trường đưa về chùa Hương cũng gợi cho người đọc truyện một đoạn kế tiếp trong kinh Pháp Hoa : Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, bị gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thảy đều đứt rả, liền đựơc thoát khỏi. Sau hết hình ảnh Bà Chúa Ba móc mắt cắt tay làm thuốc chữa cho vua cha phải chăng là biểu tượng lòng đại bi của Bồ Tát Quán Thế Âm ? Hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm, còn thờ tại nhiều chùa lớn nhỏ phải chăng không những tượng trưng cho lòng từ bi hỉ xả vô hạn của Bồ Tát mà còn cho thấy sức kỳ diệu thần thông cùng phương tiện vô lượng của Bồ Tát dùng cứu khổ cứu nạn chúng sinh ?... Hoàng Trọng Miên không cho biết ông đã ghi chép sự tích Phật Quán Âm Diệu Thiện trên đây từ nguồn gốc nào. Đối chiếu với những tài liệu Trung quốc chép sự tích Phật Bà Quán Âm, trong Hương Sơn Bảo Quyển. Về tình tiết thì khi Phật Bà Quán Âm hiện ra cứu bệnh cho vua cha thì hiển tướng thành Phật Ngàn Mắt Ngàn Tay. Ngày nay tại chùa Hương Tích Việt Nam vẫn còn thờ Phật Quán Âm Ngàn Mắt Ngàn Tay, dưới danh hiệu Đại Bi Quán Thế Âm. Tượng Phật Quán Âm thờ tại chùa Đại Bi Hương Sơn Trung quốc cũng là tượng Phật Ngàn Mắt Ngàn Tay... |