potala
 

Theo truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Bởi vậy mà đạo tràng của Ngài ở Lhassa (Thủ đô Tây Tạng) mới có tên gọi là điện Potala. Potala do chữ Potalaka tên ngọn núi linh thiêng thuộc một hải đảo miền nam Ấn độ, theo truyền thuyết xa xưa được ghi lại trong kinh điển : chính nơi đó là đạo tràng xuất phát một vị Bồ tát có hạnh nguyện cứu khổ độ sanh với danh hiệu là Quán Thế Âm.

Potalaka, âm Hán dịch là Bồ-đà-lạc-ca, Phổ Đà Lạc giả và sau cùng còn lại ngắn gọn là hai chữ Phổ Đà. Và cũng từ sử tích đó, khi tín ngưỡng Quán Thế Âm truyền sang Đông độ, một hải đảo miền nam Trung quốc, thuộc quần đảo Châu Sơn trong tỉnh Triết Giang, trở thành đạo tràng linh thiêng của Bồ tát và cũng từ đó có tên là Phổ Đà Sơn (từ thế kỷ thứ 10).

Như vậy, Potala hay Phổ-Đà-Lạc-Ca hay Phổ Đà, ý muốn xác quyết rằng đó là nơi hành hoạt của một vị Bồ Tát có rất nhiều nhân duyên với chúng sanh đau khổ ở cõi Ta bà này.

Theo kinh sách truyền thừa cũng như về lịch sử truyền bá tín ngưỡng Quan Âm hay Quán Thế Âm thì từ lúc khởi đầu cho đến ngày nay đã có rất nhiều thay đổi.

Trước hết tín ngưỡng Quan Âm xuất phát từ Ấn độ vào khoảng thế kỷ thứ hai sau tây lịch.

Rồi qua hai ngã phía nam và phía bắc như hai con đường truyền thừa mà chúng ta thường gọi là Nam truyền và Bắc truyền (như Nam Tông và Bắc Tông) để rồi lan toả khắp mọi nơi trên thế giới.

Nam truyền qua các nước Tích Lan (Srilanka), Miến Điện, Xiêm, Khờ-Me, Chiêm Thành và Nam Dương... Và Bắc truyền qua các nước Tây bắc Ấn độ (thời xưa gọi là Tây Vực) rồi từ đó đi vào Trung quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam...

Giai đoạn đầu chưa có tên gọi Quan Âm hay Quán Thế Âm mà là Quán Tự Tại hay Thế Tự Tại (Lokesvara) với hình dáng nam tử, oai dũng, mạnh bạo như một vị vua chúa đầy uy lực. Bởi vậy ở các nước Nam truyền thời xưa tôn thờ Ngài Bồ Tát này như một vị thần bảo hộ Quốc gia. Và như thế một nhà vua đang trị vì quốc gia cũng muốn có phần nào ảnh hưởng vóc dáng và uy lực của vị Bồ tát này.

Theo lịch sử còn để lại, ở các nước Chăm-Pa, Khờ-me, Java, thì ngày xưa đã tôn thờ vị Bồ tát này với danh hiệu Lokesvara (Thế Tự Tại vương). Tại Miến Điện thờ Ngài với danh hiệu Lokanatha (Vị Bảo Hộ thế gian) Natha Devigo tại Tích Lan và Chenresi tại Tây Tạng cùng một ý nghĩa tương tự...

Ngày nay ở các nước Nam truyền Phật giáo, tín ngưỡng Quan Âm không còn nữa nhưng với những tượng cổ hay những di tích được khai quật cho thấy tín ngưỡng Bồ tát này đã một thời có ảnh hưởng rất lớn tại đây.

Đối với Phật giáo bắc truyền, khi tín ngưỡng Bồ tát cứu khổ chúng sanh này truyền đến Trung quốc vào đời Tấn và nhất là đời Đường (thế kỷ thứ 7) thì dần dần có khuynh hướng phổ cập dân gian với danh hiệu Quán Thế Âm (Avalokitesvara) hay Quan Âm với hình tướng nữ nhơn, uyển chuyển dịu dàng như bà mẹ hiền chăm sóc đàn con dại.

Từ đời Tống, đời Minh (thế kỷ 13-14) trở về sau, Quan Âm Bồ tát đã hoàn toàn được nữ hóa (theo kinh Pháp Hoa) với các hình ảnh Bạch y Quan Âm, Ngư Lam Quan Âm và sau cùng là Nam Hải Quan Âm đồng thời với đạo tràng Phổ Đà Sơn được thịnh hành trên hải đảo nổi tiếng ở miền nam Trung quốc.

Nhưng dầu là Bắc truyền hay Nam truyền, hình tướng nam hay nữ, hạnh nguyện của Bồ tát vẫn trước sau như một là cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh đang còn lặn hụp trong biển khổ sông mê, đầy tai ương, chướng nạn ở thế giới Ta Bà này.

Ngày 12/7/06 sắp tới đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma (mà truyền thống thường xem Ngài như hiện thân Bồ tát Quan Thế Âm) đã hoan hỉ nhận lời dừng bước trên đường hoằng hóa, làm lễ Khai quang Tôn Tượng Bổn Sư tại ngôi chùa Khánh Anh mới ở Evry còn đang xây cất dở dang. Điều này chứng minh cho lòng từ bi vô hạn của Ngài đã không còn phân biệt chủng tộc địa phương, không câu nệ về hoàn cảnh thiếu thốn của một ngôi chùa của người Việt ly hương tỵ nạn. Ngài coi tất cả đều là chúng sanh khổ nạn cần đến bàn tay xoa dịu, cứu khổ trừ nguy.

Ngài sẽ đến với tất cả chúng ta cũng như mọi người. Chúng ta hãy đồng cầu nguyện với Ngài cho thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc, cho dân tộc Tây Tạng của Ngài cũng như dân tộc Việt Nam của chúng ta sớm xa lìa pháp nạn trầm kha, để trở về với đời sống tự do dân chủ có đầy đủ những quyền căn bản của con người./.