| Giải Đáp thắc mắc |
| (Bài số 3) |
| Ngày Trùng Tang và Trùng Nhật |
|
Hỏi : Xin cho biết ngày trùng tang và ngày "trùng nhật" là những ngày nào trong năm ? Trong dân gian kiêng kỵ những ngày này trong việc chôn cất, mai táng, vậy quan điểm của đạo Phật về những ngày này thế nào ? Đáp : Theo quan niệm của lịch số Trung Hoa và trong dân gian nói chung thì ngày trùng tang là ngày đại kỵ trong việc an táng, chôn cất. Ngày này còn có tên là ngày kiếp sát. Cách tính ngày trùng tang như sau : Đối với tuổi Thân, Tý, Thìn kỵ Tỵ. Có nghĩa là người chết tuổi Thân hay tuổi Tý hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ, tháng Tỵ, ngày Tỵ và giờ Tỵ là bị chết vào ngày trùng tang, tuyệt đối tránh an táng vào ngày Tỵ. Tương tự như thế đối với các tuổi Dần, Ngọ, Tuất kỵ Hợi; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu kỵ Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân. Những ngày trùng tang này rất hiếm trong năm. Theo quan niệm dân gian, nếu chôn cất vào những ngày trùng tang này thì sau khi an táng xong, một thời gian ngắn sau có thể những người khác trong thân tộc sẽ chết theo. Trong trường hợp khoảng vài tuần, vài tháng hoặc trong vòng ba năm có nhiều người chết liên tiếp thì bị trùng tang liên táng. Ngày trùng (trùng nhật) là ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng trùng ngày, trùng tháng và trùng năm. Như ngày Dần, tháng Dần và năm Dần; ngày Thân, tháng Thân và năm Thân... Gọi là những ngày trùng. Vào những ngày trùng, kiêng kỵ tẩn liệm, chân cất và cải táng. Người chết với bất cứ tuổi nào cũng đều xung kỵ ngày này. Trong dân gian tin rằng nếu chôn vào ngày trùng ắt sẽ có một người thân bị chết theo, tuy vậy vẫn nhẹ hơn trùng tang liên táng. Đối với Phật giáo thì sống chết là chuyện đương nhiên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng, song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định và có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ phận việc ngày giờ chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác. Tuy nhiên, vì tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên một vài nơi, trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không nên an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để "âm dương lưỡng lợi" theo quan điểm Phật giáo. Tóm lại, người Phật tử Việt Nam vì tập quán lâu đời vẫn còn tin theo lý số, có nghĩa là vẫn coi ngày giờ. Nhưng hiểu biết hơn, nhẹ nhàng hơn, vẫn là đạo lý nhân quả phước báo, biệt nghiệp của từng người mới là yếu tố quan trọng quyết định cho tất cả. Tuyệt đối không nên tin theo lý số ngày tháng mà xem thường nhân quả tội phước. Ngày Chung Thất Hỏi : Thông thường, các gia đình tang quyến cứ đợi cho đến ngày chung tất (49 ngày) mới tổ chức lễ nghi trọng thể. Vậy xin hỏi có thể tổ chức lễ cúng dường Trai tăng hay bố thí để cầu siêu trong các tuần thất trước mà không đợi đến kỳ chung thất được không ? Có nên đợi đến ngày chung thất không ? Đáp : Theo quan điểm của Phật giáo Bắc tông, con người sau khi chết, thân trung ấm tồn tại tối đa là 49 ngày (bảy thất). Đến chung thất, tuần cuối cùng, thân trung ấm sẽ tái sanh vào một cảnh giới nào đó tương ứng với nghiệp lực. Vì vậy, tuần chung thất thường được tổ chức trọng thể nhằm cầu siêu và hồi hướng phước báo cho hương linh có thêm tư lương để sanh về cõi lành. Tuy nhiên, không nhất thiết phải đợi đến chung thất vì thân trung ấm sẽ tái sanh vào bất cứ thời điểm nào trong bảy tuần nếu nhân duyên hội đủ. Do đó, nếu gia đình có chủ ý làm các điều phước thiện như cúng dường và bố thí để hồi hướng cho hương linh thì thực hiện càng sớm càng tốt. Trong khi chờ kết nghiệp để tái sanh, hương linh rất mong mỏi gia đình tu tạo phước đức để hồi hướng cho họ. Tất nhiên, nếu được ân hưởng phước báo và nguyện lực khi chưa tái sanh sẽ có tác động rất tích cực đến xu hướng cảnh giới tái sanh. Còn nếu đã tái sanh rồi, hương linh vẫn được phước báo từ sự trợ duyên của thân nhân nhưng không thể thay đổi cảnh giới đã thọ sanh. Vì vậy, nếu điều kiện cho phép thì thân nhân nên nhanh chóng tổ chức cầu siêu và hồi hướng phước báo cho hương linh mà không nhất thiết phải đợi đến chung thất. heo giáo lý nhà Phật, sau khi lâm chung, nếu chưa được vãng sanh Tịnh độ, thì vẫn còn phải luân hồi sinh tử trong 6 đường (lục đạo) từ thiên, nhơn cho đến ngạ quỹ, súc sanh, tùy theo biệt nghiệp của mỗi người. Biệt nghiệp (nghiệp riêng) của mỗi người lúc sinh tiền là yếu tố quyết định quan trọng cho kiếp tương lai. Yếu tố thứ hai là trợ duyên. Đó là hộ niệm của người chung quanh và phước báo do con cháu thân nhân, bạn hữu hồi hướng đến. Hiểu như vậy rồi, thì hồi hướng phước báo đến người qua đời, bất cứ lúc nào cũng đều quý hoá tất cả. Dĩ nhiên, càng sớm càng tốt, không nhứt thiết phải đợi đến chung thất hay 100 ngày. Vì lẽ "cứu nhơn như cứu hoả", cứu thân nhân đang trong cảnh khốn cùng mà phải đợi... cho đúng ngày, thì đâu còn ý nghĩa thiết thực gì nữa. (Tông Cổ + Thiện Hữu) |