phàm và thánh trong đạo phật
(Theo truyền thống Hữu Bộ)
Thượng Tọa Thích Nhất Chân
(Bài 2, tiếp theo kỳ bản tin tháng 4/06)
 

Phẩm số của Kiến Hoặc : 88 Hoặc

Tứ Đế có 4 Đế, thế nên mê lý Tứ Đế, tức Hoặc, cũng chia thành 4 phương diện mê hoặc. Hoặc có 10 loại, tức 10 căn bổn phiền não, như trên đã nói đến, song không phải mê Đế nào cũng khởi lên đủ 10 Hoặc. Như (1) mê mờ về lý Khổ Đế thì khởi lên đủ 10 Hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi, thân, biên, tà, thủ, giới); (2) mê mờ về lý Tập Đế thì chỉ khởi lên 7 Hoặc, trừ đi thân kiến, biên kiếngiới cấm thủ; (3) mê mờ về Diệt Đế cũng chỉ khởi lên 7 Hoặc giống trường hợp mê về Tập Đế; (4) mê về Đạo Đế khởi lên 8 Hoặc, trừ thânbiên kiến thôi. Như vậy mê về Tứ Đế tổng cộng có đến 32 Hoặc.

Nhưng Hoặc có đến ba tính loại thuộc ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc, thế nên đáng lẽ 32 Hoặc trên phải nhân lên ba thành ra 96 Hoặc. Song vì hai cõi Sắc và Vô Sắc thuộc thiền định tính, nên không có sân hoặc. Do đó với hai cõi này khi khởi Hoặc về bốn Đế thì mỗi một Đế đều trừ đi sân hoặc, tổng cộng bốn đế tức trừ đi 4 Hoặc, nhân lên hai cõi thành ra 8 Hoặc. Như vậy 96 Hoặc trừ đi 8 Hoặc còn lại con số chính xác về Hoặc trong cả ba cõi là 88.

Phẩm số của Tư Hoặc : 10 Hoặc 81 phẩm

Hoặc lại có hai phương diện là Kiến HoặcTư Hoặc, 88 Hoặc trên chỉ là phẩm số của Kiến Hoặc thuộc 3 cõi. Còn riêng Tư Hoặc, thì mê cả bốn Đế cũng chỉ khởi lên có 4 Hoặc là tham, sân, si, mạn, vì nghi và năm kiến kia đều thuộc về phương diện Kiến Hoặc (trí năng), chứ không thuộc về phương diện Tư Hoặc (tình cảm). Như vậy 4 Hoặc này đối với 3 cõi đáng lẽ phải nhân lên ba mà thành 12 Hoặc, song vì hai cõi trên không có sân hoặc, thế nên phải trừ đi 2 sân hoặc này, như vậy tổng cộng cả ba cõi chỉ có 10 Tư Hoặc.

Tại sao Kiến Hoặc đối với mỗi Đế trong bốn Đế đều có số Hoặc riêng, mà số Tư Hoặc lại đối chung với cả bốn Đế chứ không phân riêng ra từng Đế ? Vì tính chất của Kiến (thuộc trí năng) là "thấy", tức phân biệt rõ ràng. Quán sát từng phần riêng rẽ, tức là thấy rõ, tức là Kiến, thế nên Hoặc che mờ Kiến ấy cũng theo đó mà được lập thành từng phần chi tiết. Còn vốn thuộc tình cảm, chỉ gom đối tượng lại thành một khối mà mê chấp, không cần phân biệt thành từng phần khác nhau như Kiến, thế nên Tư Hoặc không cần phải phân bốn Đế thành từng Đế riêng rẽ mà khởi Hoặc với riêng từng Đế.

Tuy nhiên, Tư Hoặc lại khó đối trị hơn Kiến Hoặc nhiều, và phải đối trị rất lâu dài, trong nhiều đời, mới diệt hết được, thế nên 10 Tư Hoặc ấy cần phải chia ra thành nhiều phẩm từ nặng đến nhẹ để dễ đối trị. Cách chia như sau : 10 Tư Hoặc bao gồm ba cõi, Hoặc thuộc cõi Dục nặng nên gom lại thành 1 phẩm, Hoặc của hai cõi trên nhẹ nên phân thành 8 phẩm (tức 4 phẩm cõi Sắc phân theo bốn Thiền, và 4 phẩm cõi Vô Sắc phân theo bốn định). Như vậy 10 Tư Hoặc của ba cõi tổng cộng có 9 phẩm. Vì Tư Hoặc rất khó đối trị, nên mỗi một phẩm trong 9 phẩm ấy lại phân làm 3 phẩm trung, tức thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm; mỗi một phẩm trong 3 phẩm trung này lại phân làm ba phẩm nhỏ, cũng thượng, trung, hạ. Như vậy 1 phẩm lớn có 3 phẩm trung, 9 phẩm lớn thành ra 27 phẩm trung; mỗi phẩm trung lại có 3 phẩm nhỏ, 27 phẩm trung sẽ thành 81 phẩm nhỏ. Tổng cộng 10 Tư Hoặc của ba cõi sẽ được phân thành 9 phẩm lớn, tức 81 phẩm nhỏ.

Tại sao Hoặc cõi Dục nặng mà chỉ gom thành 1 phẩm, trong khi Hoặc hai cõi trên nhẹ lại phân thành 8 phẩm ? Vì Hoặc càng thô nặng thì càng dễ thấy nên dễ trị, Hoặc càng nhẹ và vi tế thì càng khó thấy nên khó trị. Các Hoặc thuộc cõi Dục như tham tài, sắc, danh, ăn ngủ, kiêu căng; nặng và thô hơn nữa thì thành nghiệp giết, trộm, nói láo, chửi bới v.v... đều dễ thấy dễ biết, thế nên người tu hành dễ đề phòng, dễ đoạn diệt hơn là Hoặc của hai cõi trên. Hai cõi trên vốn lìa Dục, tức lìa hết các Hoặc thô của cõi Dục, nên bề ngoài rất thanh tịnh, an lạc và sáng suốt, không còn thấy đâu là phàm, là mê mờ, là phiền não Khổ nữa. Đến ngay chính người tu hành khi chỉ mới lìa được Hoặc của cõi Dục mà đã tưởng đâu mình thành Thánh rồi, điều này chứng tỏ Hoặc của hai cõi trên rất vi tế khó thấy, nên phải phân nó ra thành tầng cấp bậc từ thô vào tế mới có thể đối trị được, do đó mới thành 8 phẩm như trên.

Lập thành Thánh Đạo : Kiến Đạo và Tu Đạo

Sau khi lập thành các loại Hoặc và phẩm số của chúng rồi, các tiến trình và các giai đoạn tu tập đoạn Hoặc tự nhiên cũng theo đó mà được thành lập. Các tiến trình đoạn Hoặc này trở thành "con đường" diệt mê mờ phát trí huệ, diệt khổ đau đắc giải thoát, diệt phàm tính thành Thánh tính, tức chuyển phàm thành Thánh, nên được gọi là Thánh Đạo.

Thể theo hai phương diện mê mờ về chân lý Tứ Đế là Kiến HoặcTư Hoặc, đạo Phật lập thành hai giai đoạn để đoạn Hoặc. Hai giai đoạn ấy chính là hai tiến trình của con đường Thánh Đạo, thế nên chúng được gọi là "đạo". Tiến trình đoạn Kiến Hoặc được gọi là Kiến Đạo, và đoạn Tư Hoặc được gọi là Tu Đạo. Bởi vì Tư Hoặc khó đoạn và cần phải có thời gian lâu dài để đoạn hơn là Kiến Hoặc, thế nên Kiến Hoặc bao giờ cũng được đoạn trước Tu Hoặc, vì vậy Kiến Đạo luôn luôn là tiến trình đi trước Tu Đạo.

Thứ Tự dứt khoát : Kiến Đạo trước, Tu Đạo sau

Thứ tự này rất dứt khoát và không thể đảo ngược được. Tại sao vậy ? Lý đương nhiên, có "thấy" đường rồi mới "đi" theo đường được, có "biết" đường rồi mới "đi đúng" đường được. Có diệt Kiến Hoặc thấy ra chân lý Tứ Đế rồi, tức nhập vào Kiến Đạo, thì rồi sau đó mới tu tập theo chân lý ấy mà diệt được Tư Hoặc mới thành được Tu Đạo, mà không bị lệch lạc như ngoại đạo, và không bị trệ ngại như thế gian.

Tại sao người phàm tu tập lìa dục, mà vẫn bị coi là phàm ? Bởi vì họ lìa dục mà vẫn bị hệ thuộc vào hai cõi trên là Sắc và Vô Sắc. Tại sao lìa dục mà lại vẫn bị trói buộc vào hai cõi trên ? Bởi vì khi tu lìa dục họ chưa nhập vào được Kiến Đạo, tức chưa chứng được chân lý Tứ Đế, hoặc vì là ngoại đạo, nên không hề hay biết gì về lý Tứ Đế hết, thế nên họ chỉ nhất thời lìa được cõi Dục, chứ không sao đặt chân được vào Thánh Đạo hết. Điều kiện duy nhất để thể nhập vào Thánh Đạo, để đi trên con đường Thánh, tức tu tập đúng theo đường phát Trí, thoát Khổ, thành Thánh, là phải vào được Kiến Đạo, tức phải chứng được chân lý Tứ Đế. Nói theo tổ Quy Sơn là đốn ngộ trước rồi tiệm tu sau.

Theo đạo Phật mọi người có quyền tha hồ "tu" : thiền định, khổ hành, đạo đức, vị tha bác ái v.v... dựa trên bất cứ tư tưởng hay giáo thuyết nào, và có đạt được bao nhiêu thành quả thần thông, có ảnh hưởng với loài người đến đâu đi nữa, song nếu chưa chứng được Tứ Đế hoặc không biết gì về Tứ Đế hết, thì coi như người đó vẫn chưa thoát Khổ, vẫn chỉ là phàm. Thánh trong đạo Phật không ăn nhằm gì đến thần thông phép lạ, thiền định, khổ tu, vị tha bác ái, cũng chẳng ăn nhằm gì đến chuyện có danh tiếng lẫy lừng, ảnh hưởng to lớn, lưu danh hậu thế, được tôn thờ, kính ngưỡng. Thánh có nghĩa là cứu cánh thoát khỏi tất cả các cảnh Khổ của 3 cõi 25 hữu, và điều kiện duy nhất và đầu tiên phải có để thoát được là phải chứng được chân lý Tứ Đế, tức vào được Kiến Đạo.

4. Kiến Đạo

Nghĩa của Tứ Đế

Tứ Đế không đơn giản như chúng ta thường tưởng. Thực ra chỉ có đức Phật mới thấy ra được, thành lập được và nói lên được để lợi ích cho mọi người về Tứ Đế này. Đức Phật thành lập Tứ Đế bằng bốn "danh từ" Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Bốn danh từ ấy nói lên bốn mặt của một Sự Thật tối thượng và tuyệt đối. Vì bốn danh từ này vốn dĩ đã được thế gian sử dụng, kinh nghiệm và hiểu nhận theo lối thế gian, thế nên chúng ta thường bị bốn danh từ ấy gây hiểu lầm.

Thí dụ như Khổ, không ai lại không biết về khổ, lại chưa từng trải qua cái khổ, chúng ta than khổ hàng ngày, thực sự từ vật chất đến tinh thần chúng ta không xa lạ gì hết với cái khổ này. Nhưng nó chỉ là một cảm giác trong nhiều cảm giác, một ý nghĩa trong nhiều ý nghĩa, tại sao lại lập nó thành Sự Thật một cách trịnh trọng như vậy, tại sao lại nói do không biết về Khổ nên mới thành mê mờ, rồi gọi là Hoặc, rồi ai "thấy" Khổ thì gọi là "chính kiến" ? Mọi người ai cũng từng thấy từng biết về khổ hết rồi, vậy thì đúng lý mọi người đều phải có chính kiến, đều nhập Kiến Đạo, đều chứng Thánh Đạo hết mới phải chứ ?

Như vậy đủ hiểu chữ Khổ của Tứ Đế không phải là ý nghĩa, là kinh nghiệm khổ của thế gian, mà là cái Sự Thật Khổ, tức Khổ Đế, bị che dấu khỏi sự nhận biết và tri giác của thế gian. Thế gian chịu đủ loại khổ đau của họ, chỉ vì không thấy ra Khổ Đế này. Để giúp chúng sinh theo khả năng của họ, đức Phật vẫn giải thích Khổ Đế theo nghĩa chữ "khổ" của thế gian như "thương mà chia lìa là khổ", "ghét mà gặp gỡ là khổ", "mong cầu mà không được là khổ" v.v... và Ngài mở rộng nghĩa Khổ này ra bao trùm hết mọi cõi qua ba nghĩa khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Song thực sự ra đó vẫn chỉ là "ý nghĩa" khổ theo kinh nghiệm thế gian, chứ chưa phải là cái Sự Thật Khổ theo kinh nghiệm Thánh Trí. Từ cái nghĩa khổ của kinh nghiệm thế gian để đi đến cái Sự Thật Khổ của Thánh Trí là cả một con đường tu tập đầy công phu và vô vùng khó khăn.

Như vậy, chúng ta có thể thành lập ý nghĩa Khổ thành hai giai đoạn : một là nghĩa khổ theo thế gian, hai là Sự Thật Khổ theo Thánh Trí. Nghĩa khổ của thế gian thì ai cũng biết rồi, nhưng Sự Thật Khổ theo Thánh Trí thì cần phải tu tập mới thực chứng được. Giai đoạn thực chứng này lại phân làm 2: thực chứng Khổ Đế bằng trí năng, tức Kiến Đạo, và thực chứng Khổ Đế bằng kinh nghiệm, tức Tu Đạo. Có thể nói rằng Tứ Đế có 2 mặt để chứng thực là "" và "Sự". Bằng Kiến Đạo chứng ra Chân Tứ Đế, bằng Tu Đạo chứng ra Sự Thật Tứ Đế.

Tiến trình chuẩn bị : Thất gia hành vị hay phương tiện vị

Nhận định như vậy rồi chúng ta mới thấy con đường Kiến Đạo để chứng ra lý Tứ Đế không đơn giản. Muốn nhập vào Kiến Đạo để chứng lý Tứ Đế, chúng ta còn cần phải trải qua nhiều tiến trình tu tập chuẩn bị đi trước. Chẳng hạn như đầu tiên hết là phải xuất gia thọ Cụ Túc giới (tức giới Tỳ Khưu), phải học giới và trì giới cho thanh tịnh, phải sống một cuộc sống thanh tịnh từ trong đến ngoài dựa trên bốn thánh chủng (trì ba y, đi khất thực, sống dưới gốc cây, ưa đoạn phiền não ưa tu giải thoát) với tinh thần "hỉ túc thiểu dục" (bằng lòng vừa đủ và ít ham muốn). Đồng thời phải tu tập ba Huệ là lắng nghe Pháp, nghe rồi suy tư, suy tư rồi tu tập, gọi là văn huệ, tư huệtu huệ.

Sau khi đã rèn luyện thân tâm mình theo một kỷ cương như trên rồi, người tu hành mới bắt tay vào sự tu tập. Giai đoạn này thông thường được phân ra thành 7 tiến trình, thường gọi là "thất phương tiện vị", tức 7 địa vị làm phương tiện để nhập vào Kiến Đạo, hay còn gọi là "thất gia hành vị", tức 7 địa vị ra sức thực hành giáo pháp mà mình đã được nghe và suy xét đúng nghĩa. Chữ "vị" có nghĩa là vị thứ, địa vị, vị trí. Ý nói những người đang trong giai đoạn tu này là thuộc vào vị trí nào đó giữa phàm và Thánh. Thất phương tiện vị là giai đoạn ở vị thứ đang ra sức tu như phương tiện để chuyển phàm thành Thánh. Bẩy phương tiện này thứ tự như sau : (1) ngũ đình tâm quán, (2) biệt tướng niệm trụ, (3) tổng tướng niệm trụ, (4) noãn, (5) đỉnh, (6) nhẫn, (7) thế đệ nhất pháp. Bẩy giai đoạn này lại được phân làm hai tiến trình chính : ba giai đoạn đầu hợp lại thành một tiến trình gọi là tam hiền vị, bốn giai đoạn sau hợp lại gọi là tứ thiện căn.

Tam hiền vị : Ngũ đình, biệt tướng, tổng tướng

(1) Ngũ đình tâm quán có nghĩa là 5 pháp quán tưởng để ngưng tâm lại, ở đây chính yếu là dừng các "nghiệp" ác căn bản lại, như :

      Quán bất tịnh để dừng tham dục

      Quán từ bi để dừng sân hận

      Quán nhân duyên để dứt si mê

      Quán giới phân biệt để phá chấp ngã

      Quán hơi thở để chặn loạn tâm.

Trong 5 pháp này, hai pháp được tu tích cực nhất là quán bất tịnh và quán hơi thở. Vì người mới tu quan trọng nhất là phải chế ngự được dục niệm và loạn tâm là những điều thường xảy ra cho họ hơn là sân hận, còn si mê và phá ngã thì sau này nhập Kiến Đạo họ sẽ dễ dàng thành tựu hơn.

(2) Tiếp đến là giai đoạn tu biệt tướng niệm trụ và tổng tướng niệm trụ, tức tu 4 niệm xứ, nhằm phá bốn "điên đảo" chấp các pháp là "thường, lạc, ngã, tịnh", như :

      Quán thân bất tịnh để phá chấp tịnh

      Quán thọ thị khổ để phá chấp lạc

      Quán tâm vô thường để phá chấp thường

      Quán pháp vô ngã để phá chấp ngã.

Đầu tiên chia ra bốn phương diện thân, thọ, tâm, pháp như vậy mà quán riêng rẽ mỗi pháp, như quán bất tịnh là y nơi thân mà quán, quán khổ là y nơi thọ mà quán, quán vô thường là y nơi tâm mà quán, quán vô ngã là y nơi pháp mà quán, thì gọi là "biệt tướng niệm trụ". Khi quán thuần thục rồi, mới gom hết cả bốn "y xứ" thân, thọ, tâm, pháp ấy lại mà quán chung bằng tướng của Khổ Đế, vì tướng của Khổ Đế chính là "tổng tướng" của cả bốn y xứ. Tướng của Khổ Đế là gì ? Là các "hành tướng". Hành tướng là gì ? Là khi các đối tượng của tâm, giúp cho tâm chuyển vận hướng theo ý nghĩa của đối tượng đưa ra, để cho nghĩa ấy được thực sự hoạt động trong tâm. Nói cách khác là khi tâm mượn các hình tướng hay ý nghĩa để nương theo đó mà hiện khởi hoạt động, biến các tướng ấy thành hoạt động của tâm, thì gọi là "hành tướng". Khổ Đế có bốn hành tướng là "vô thường, khổ, không, vô ngã". Đem 4 hành tướng ấy áp đặt lên bốn y xứ (thân, thọ, tâm, pháp) mà quán, tức tâm chuyển theo 4 tướng ấy, cứ thế tu tập liên tục thì gọi là "tổng tướng niệm trụ".

Ba vị thứ ở trên nhằm chuẩn bị để thực sự bắt tay vào việc thực hành quán về "tướng" của Tứ Đế. "Ngũ đình tâm quán" nhằm điều phục các tâm loạn động tham, sân, si, chấp ngã của thế gian. Điều phục được các tâm ấy, thì tâm mới an tĩnh và súc tích năng lực thanh tịnh. Tâm có thanh tịnh và đắc lực như thế mới có thể tập trung trói tâm vào bốn chỗ y cứ mà tu tập "biệt tướng niệm trụ" nhằm phá đi các tà chấp thường, lạc, ngã, tịnh của thế gian và ngoại đạo. Phá được các tà chấp ấy thì năng lực súc tích của tâm kia mới thực sự được thanh tịnh và trở nên trong sáng, phát lực quán chiếu mạnh mẽ. Lúc ấy mới có được lực quán chiếu thích ứng để duyên theo các hành tướng của Tứ Đế đặt trên bốn y xứ mà tu "tổng tướng niệm trụ". Rõ ràng ba tiến trình ấy là cốt thanh tịnh tâm để tụ năng lực tâm lại cho mạnh mẽ mà quán chân lý Tứ Đế, hầu mong phát Trí để đoạn Hoặc chứng Chân thành Thánh. Đến đây người tu hành mới có đủ điều kiện khả năng đế quán Tứ Đế vậy. Nói theo Chỉ Quán thời các giai đoạn trên là tu "chỉ" (samatha), đến "tổng tướng niệm trụ" là bắt đầu tu "quán" (vipasyana) cho đến nhập Kiến Đạo.

Tướng của Tứ Đế : 32 hành tướng

Quán Tứ Đế là gì ? Là quán các hành tướng của bốn Đế. Hành tướng của bốn Đế là những gì ? Mỗi Đế có 4 hành tướng như sau :

      Khổ Đế : khổ, không, vô thường, vô ngã

      Tập Đế : tập, nhân, sinh, duyên

      Diệt Đế : diệt, tĩnh, diệu, ly

      Đạo Đế : đạo, như, hành, xuất.

Tổng cộng là 16 hành tướng. Quán 4 Đế phát Trí là để đoạn Hoặc của cả ba cõi, thế nên luôn luôn phải quán trọn vẹn cả 3 cõi. Do đó đáng lẽ khi quán 16 hành tướng này là phải nhân lên 3, nhưng vì 2 cõi Sắc và Vô sắc đồng 1 tính chất ly dục như nhau, nên chỉ cần quán hành tướng của một cõi cũng đủ phát Trí trọn vẹn đối với Hoặc của cả hai cõi. Vì vậy hai cõi này hợp lại làm một, nên 16 hành tướng chỉ cần nhân lên 2 thành 32 hành tướng để quán cho cả ba cõi.

Cách quán trong đạo Phật thông thường là trước hết quán "hẹp", kế đến mới quán "rộng" bao trùm hết, sau cùng quán hẹp trở lại. Như giai đoạn "tổng tướng biệt trụ" là khi bắt đầu quán hành tướng của Tứ Đế, thì chỉ lấy 4 hành tướng của Khổ Đế là khổ, không, vô thường, vô ngã để mà quán, thì đó là quán hẹp. Tiếp đến bốn giai đoạn sau là "tứ thiện căn" thời bắt đầu quán rộng ra bằng 16 hành tướng của bốn Đế và rộng hơn nữa bao trùm cả 3 cõi bằng 32 hành tướng. Quán hết 32 hành tướng như thế rồi mới thu hẹp lại. Tiến trình tu quán này sẽ diễn ra trong giai đoạn "tứ thiện căn" vậy.

Tứ thiện căn : noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất

Giai đoạn này được gọi là "thiện căn" có lẽ vì đối với người phàm, đây là giai đoạn căn bản để phát Trí phá Hoặc. Hoặc là gốc của tất cả mọi đau khổ nên bị gọi là "ác", Trí phá hết Hoặc nên đúng là "thiện", giai đoạn này là gốc để phát Trí, nên gọi là "thiện căn". Như trên đã nói đây là giai đoạn ráo riết quán 32 hành tướng của Tứ Đế, gồm có 4 tiến trình :

      Noãn có nghĩa là hơi nóng bốc lên, chỉ cho năng lực quán 32 hành tướng của Tứ Đế bắt đầu tích tụ lại để chuẩn bị khởi phát thành Trí.

      Đỉnh là đỉnh núi, tức chỗ cao nhất, chỉ cho lực quán 32 hành tướng phát huy đến mức cực độ.

      Nhẫn là nhẫn khả, tức tin tưởng chấp nhận, chỉ cho 32 hành tướng ấn dấu của Tứ Đế vào tâm hành giả một cách vững chắc không xóa nhòa được nữa.

      Thế đệ nhất là pháp cao nhất trong thế gian gồm 3 cõi 25 hữu này, nên cũng là pháp cuối cùng để thoát khỏi xác phàm, chỉ cho giai đoạn cuối cùng khi tâm thức chính thức chuyển thành Trí.

Bốn pháp này là bốn mức độ tiếp nối sát liền nhau từ thấp lên cao, mục đích chỉ là ấn dấu ấn của Tứ Đế vào trong tâm người tu cho đến mức Tứ Đế trở thành tâm của người ấy, hay nói ngược lại tâm người ấy trở thành chân lý Tứ Đế, trở thành Trí. Trạng thái của Trí vô cùng tinh tế, không thể nào bằng suy luận mà thể nhập vào Trí được, mà chỉ bằng "quán" mới có thể đạt đến được. 32 hành tướng của Tứ Đế là để quán chứ không phải để suy luận.

Noãn, đỉnh vị quán rộng : 32 hành tướng

Như trên đã nói quán đủ 32 hành tướng là quán "rộng", nghĩa là đem lý Tứ Đế ra quán trùm hết cả 3 cõi. Cả 3 cõi đều là 4 tướng của Khổ; đều là 4 tướng của Tập, tức đều từ nhân mà thành, đều là nhân để sinh tiếp; đều là 4 tướng của Diệt, tức đều là đối tượng để đoạn diệt không sót; đều là 4 tướng của Đạo, tức đều là đối tượng để thực hành việc thoát ly, để tìm lối ra khỏi.

Thế nào là quán rộng ? Bắt đầu quán tướng của tứ đế là quán hẹp, tức giai đoạn "tổng tướng biệt trụ", chỉ quán 4 hành tướng của Khổ Đế (khổ, không, vô thường, vô ngã). Tiếp ngay sau đó chuyển sang quán rộng, tức hai vị thứ "noãn" và "đỉnh", thời quán đủ 32 hành tướng của 4 Đế. Quán rộng như sau :

Thứ tự của 8 Đế này là : (1) Khổ, (2) Tập, (3) Diệt, (4) Đạo, (5) Khổ, (6) Tập, (7) Diệt, (8) Đạo. 4 Đế trước thuộc cõi Dục, 4 Đế sau thuộc hai cõi trên. Khi quán rộng là bắt đầu quán cõi Dục bằng Khổ Đế với 4 tướng, rồi quán đến Tập, Diệt Đạo của cõi Dục (mỗi Đế cũng với 4 tướng riêng của nó); sau đó quán tiếp đến hai cõi trên Sắc và Vô Sắc cũng bằng 4 tướng của Khổ Đế, rồi tiếp tục quán 4 tướng của Tập, của Diệt, cho đến cuối cùng là 4 tướng của Đạo, tức đạo, như, hành, xuất là chấm dứt. Nói chính xác bắt đầu quán là quán cõi Dục bằng hành tướng khổ của Khổ Đế cho đến cuối cùng là quán hai cõi trên bằng hành tướng xuất của Đạo Đế thuộc hai cõi trên. Tiến trình quán rộng này trải qua 8 Đế và 32 hành tướng.

Quán rộng trong hai tiến trình noãn và đỉnh này rất khó và vi tế, thế nên mỗi tiến trình này đều được phân thành 3 phẩm là thượng, trung và hạ cho dễ quán hơn. Khi hành giả tại vị thứ noãn tu quán 8 Đế 32 hành tướng từ "hạ phẩm noãn" đến "thượng phẩm noãn" rồi thì chuyển tiếp sang "hạ phẩm đỉnh". Khi lên đến "thượng phẩm đỉnh" rồi thì sẽ chuyển tiếp sang vị thứ nhẫn. Sang đến nhẫn là bắt đầu quán thu hẹp lại để chuẩn bị phát Trí, tức nhập Kiến Đạo, thành Thánh.

Nhẫn vị quán hẹp : 24 vòng giảm hành, 7 vòng giảm duyên

Quán thu hẹp lại là như thế nào ? Nghĩa là cứ quán giảm dần đi từng hành tướng một trong 32 hành tướng, nhưng theo thứ tự từ hành tướng thứ 32 đi ngược trở lại. Hành tướng thứ 32 tức là hành tướng thứ tư "xuất" của Đạo Đế thuộc hai cõi trên. Nghĩa là tướng "xuất" này của Đạo Đế thuộc hai cõi trên sẽ bị giảm đi đầu tiên. Nhưng giảm tướng này vào lúc nào ? Khi đến "thượng phẩm đỉnh" hành giả quán rộng từ hành tướng khổ thứ nhất của Khổ Đế cõi Dục lên cho đến hành tướng thứ 32 là xuất của Đạo Đế hai cõi trên. Tiếp ngay sát na sau hành giả thăng lên "nhẫn vị" bắt đầu quán trở lại từ hành tướng khổ thứ nhất của Khổ Đế cõi Dục nhưng chỉ quán đến hành tướng thứ 31, tức hành tướng diệu của Đạo Đế hai cõi trên, là ngưng. Như vậy gọi là giảm đi một hành tướng, tức quán được thu hẹp lại còn 31 hành tướng thôi. Kế đế muốn giảm tiếp hành tướng thứ 31 này, hành giả lại bắt đầu quán trở lại từ hành tướng thứ nhất và chỉ quán đến hành tướng thứ 30 thôi, tức giảm đi hành tướng thứ 31, cứ vậy mà tiếp tục quán để giảm dần các tướng đi. Mỗi một phen trở lại từ tướng thứ nhất rồi quán đi để giảm một tướng được gọi là một vòng. 32 hành tướng đáng lẽ là phải 32 vòng, song tại "nhẫn vị" thì chỉ giảm 31 hành tướng thôi, còn lại hành tướng cuối cùng là để thăng lên "thế đệ nhất vị". Thế nên tiến trình giảm hành này chỉ có 31 vòng.

Giảm này lại phân ra là "hành" và "duyên". Bởi khi quán 8 Đế trên 3 cõi, thì 8 Đế là sở duyên, tức đối tượng, để quán. Quán tức là tâm chuyển vận theo 32 tướng của 8 Đế mà "nhìn" mà "thấy". Tâm vốn vô hình tướng, khi tâm khởi lên là đều mang hình tướng của sở duyên, lấy đó làm tướng của tâm luôn, nên 32 tướng đó thành tướng của tâm quán. Tâm chuyển vận khởi lên như thế được gọi là "hành", thế nên 32 tướng đó mới gọi là "hành tướng". Khi giảm 32 hành tướng đó đồng thời có nghĩa là giảm cả 8 Đế luôn. Như khi giảm đến hành tướng thứ 29, tức hành tướng thứ nhất "đạo" của Đạo Đế thuộc hai cõi trên, tức giảm luôn không "duyên" theo Đạo Đế của hai cõi trên nữa, lúc ấy không gọi là "giảm hành" mà gọi là "giảm duyên". Hay như khi giảm đến hành tướng thứ 26, tức hành tướng thứ nhất "diệt" của Diệt Đế thuộc hai cõi trên, tức không "duyên" theo Diệt Đế của hai cõi trên nữa, thì đó lại là một lần "giảm duyên" nữa chứ không kêu là "giảm hành". Như vậy 31 vòng giảm các hành tướng và 8 Đế sẽ phân thành 7 vòng giảm duyên và 24 vòng giảm hành, tức giảm hết 7 Đế chỉ còn chừa lại một Khổ Đế thuộc cõi Dục và giảm hết 31 hành tướng chỉ còn giữ lại một hành tướng khổ của Khổ Đế thuộc cõi Dục này mà thôi.

Đó chính cách thức quán thu hẹp lại chỉ còn một hành tướng cuối cùng của Khổ Đế cõi Dục. Khi quán thu hẹp lại như vậy rồi, tâm tụ lại hết vào một hành tướng không cần duyên nhiều nữa vì tâm đã hoàn toàn tiếp nhận duyên vào không mất nên tâm luôn có mặt trong trạng thái của duyên ấy tâm có tướng của duyên ấy, nó ăn luôn vào tâm rồi. Tâm chuyển theo cảnh để khởi, nay cảnh in chặt vào tâm rồi nên không cần phải duyên theo cảnh nữa, do đó tâm ngưng đối với bên ngoại, nhưng bên trong là trụ lại hay tích tụ lại thành hình tướng của cảnh. Nếu cảnh là chân lý thì tâm trở thành Trí, nếu cảnh không phải chân lý thì tâm là phàm.